"Chữ tín trong kinh doanh'

19:27 |
Chữ Tín là một thương hiệu ngầm trong kinh doanh

Chữ Tín là uy tín, sự thủy chung trước sau như một, không thay lòng đổi dạ, dù hứa hẹn một việc nhỏ cũng chẳng sai lời.  Chữ Tín trước hết phải là Tín với bản thân mình. Nói được – làm được trước hết là tôn trọng bản thân mình. Khi đã tôn trọng bản thân mình thì sẽ hiểu được sự cần thiết phải giữ chữ Tín với người khác.


1.Câu chuyện thứ nhất về chữ tín:

-   Ăn rau không chú ơi! Một giọng khàn khàn, run run làm gã giật mình. Gã ngoảnh lại sau lưng, một bà già lưng còng cố ngước lên nhìn một cô gái mặc chiếc áo khoác hàng hiệu. Bên cạnh bà là mẹt rau chỉ còn vài mớ rau muống nhàu nhĩ.
-   Ăn hộ tôi mớ rau. Giọng bà cụ vẫn khẩn khoản.
-   Rau thế này bà mang về cho lợn ăn! Cô gái buông lời chan chát rồi phẩy tay đi thẳng.
Gã ngoái lại nhìn cô gái, cau mày đợi cô gái đi khuất. Gã đến nói với bà:
-  Rau này bà bán bao nhiêu?
-  Hai nghìn một mớ - Bà cụ mừng rỡ.
Gã rút tớ mười nghìn đưa cho cụ.
-  Sao chú mua nhiều thế?
-  Con mua cho cả bạn con. Bây giờ con phải đi làm, bà cho con gửi đến chiều về con qua lấy.
Rồi gã nhấn ga lao đi. Gã cảm thấy vui vui.
Chiều hôm ấy mưa to xối xả. Gã nhìn những hàng cây đang oằn mình trong gió, gã chợt nhớ đến bà cụ và thương cho những phận nghèo bần cùng. Rồi gã cuốn vào công việc với nhiều âu lo. Gã quên hẳn bà cụ.
Một chiều chủ nhật, gã ghé qua quán trà đá ven đường. Chưa kịp châm điếu thuốc, gã chợt giật mình bởi giọng oang oang của một bà gần đó:
-   Bà già bán rau chết rồi!
-   Bà cụ hay đi qua đây hả chị? – Chị bán nước chè hỏi.
-   Ừ. Tội nghiệp bà cụ. Cách đây mấy tuần bà cụ giở chứng cứ ngồi dưới mưa bên mớ rau. Có người thấy thương hỏi mua giúp nhưng bà nhất quyết không bán, rồi nghe đâu bà cụ cảm lạnh rồi chết.
Nghe đến đây, mắt gã chợt nhòe đi, điếu thuốc rơi khỏi lòng môi.

2.Câu chuyện thứ hai về chữ tín:

Ông bố có thói quen đọc báo. Sáng nào chở con gái đi học ông cũng ghé sạp báo dọc đường để mua một tờ. Vì bận công việc nên số báo hôm qua ông chưa kịp đọc. Ông dừng xe lại cạnh một quầy bán báo bên đường để hỏi mua. Người bán báo bảo rằng còn, nhưng để ở nhà, và hứa sáng mai sẽ đem ra cho khách. Ông bố cũng hẹn sáng mai ghé lại. Nhưng sau đó vì nóng lòng về tin thời sự trên số báo cũ ấy nên ông bố đã mua ở một sạp báo khác. Sáng hôm sau, chở con đi học, ông dừng xe hỏi mua tờ báo đã hẹn. Đứa con gái thấy thế thắc mắc: “Số báo đó đã mua rồi mà bố?". Ông bố bảo: "Không phải bố mua để đọc. Bố mua để giữ lời hứa".

Câu chuyện là bài học cảm động về chữ Tín. Giữ chữ Tín không phải là điều gì cao xa, vĩ đại. Giữ chữ tín chỉ đơn giản như hành động của bà cụ bán rau trong câu chuyện trên. Đó là bằng mọi cách phải giữ trọn lời hứa. Đơn giản nhưng không phải ai cũng có đủ kiên tâm để thực hiện. Lời hứa, không đơn giản là một lời nói ra, nó là cam kết thành tâm thực hiện.

Chữ Tín là tiền đề thúc đẩy mọi mối quan hệ. Chữ Tín là văn hóa trong kinh doanh, đem lại nét đẹp và thúc đẩy các mối quan hệ kinh doanh. Nhờ chữ Tín, con người có thể sát cánh bên nhau để vượt qua mọi gian nan thử thách của cuộc đời… .

Đức Phật dạy thực hiện được thì mới nói, đủ điều kiện thì mới nói, bình tĩnh thì mới nói, có lợi ích thì mới nói, cẩn trọng được thì mới nói. 
- Thứ nhất, bản thân thấy có khả năng làm được thì đưa ra lời hứa, như người biết sửa xe thì hứa sẽ sửa xe.
- Thứ hai, bản thân thấy mọi điều kiện đã hội tụ giúp phát sinh lời hứa thành công thì đưa ra lời hứa, như người vừa trúng số độc đắc đủ khả năng mua nhà thì hứa sẽ mua nhà.
- Thứ ba, bản thân đang ở trạng thái bình thường, sáng suốt và nhận hiểu sự việc rõ ràng thì đưa ra lời hứa, như người không say rượu tự chủ hơn người đang say rượu.
- Thứ tư, bản thân nhận thấy làm việc này có lợi cho cả hai bên hay nhiều bên thì đưa ra lời hứa, như quyết định trồng cây giúp giữ màu xanh cho bản thân và nhiều người thì hứa như vậy.
- Cuối cùng, bản thân sau khi xem xét kỹ lưỡng thấy lời hứa này là cần thiết thì đưa ra lời hứa, như dịch vụ bảo trì động cơ sau khi bán là cần thiết thì nên hứa như vậy.
- Nói tóm lại, doanh nghiệp dù đưa ra ngàn lời hứa mà không thực hiện được không bằng đưa ra một lời hứa duy nhất mà lúc nào cũng thực hiện tròn trịa, chữ tín nằm ở chất lượng, không ở số lượng và nằm ở hành động hơn là lời nói.





Read more…

'Khảo sát thị trường tại địa bàn tỉnh lai châu đầu tư dự án nhà máy sản xuất gạch không nung'

14:05 |
Đánh giá tình hình thị trường tiêu thụ sản phẩm và sự cần thiết đầu tư dự án:

1 Tình hình xã hội:

- Xã Mường Cang hiện nay là một xã trung tâm của của huyện Mường Cang, dân cư đông đúc, điều kiện kinh tế, xã hội phát triển, cách trung tâm huyện 4km,có quốc lộ 32 giao thông thuận tiên đi về tp Lai Châu ,và lối liền giao thông với huyện Mù Cang Chải của tỉnh Yên Bái. Nhìn chung về địa hình, giao thông, VHXH thuận lợi cho xây dưng nhà máy và tiêu thụ sản phẩm.

2- Tình hình thị trường:  


- Thị trường tiêu thụ tăng dần từng năm từ 03 đến 05 triệu viên SP/năm.
- Thị trường trong tỉnh năm 2015 dự kiến theo báo cáo sở Công Thương là 170 triệu viên trong đó gạch Tuy nen là 80 triệu viên.
- Trên địa bàn tỉnh hiện nay chỉ về thị trường gạch không nung mới có các hộ gia đình sản xuất nhỏ lẻ, sản phẩm gạch chỉ đạt mác 50, sản lượng thấp không có khả năng cung cấp cho các công trình xây dựng lớn, mẫu mã không đa dạng. Các công trình xây dựng trong tỉnh bằng vốn nhà nước theo quy định phải sử dụng gạch không nung nhưng hiện nay chưa có cơ sở nào đáp ứng được về chất lượng cũng như số lượng.

3- Đánh giá xu hướng phát triển Vật Liệu Xây Dựng: 

- Sản xuất gạch không nung là công nghệ tiên tiến hiện nay, các công đoạn phần lớn được tự động hóa và dùng thiết bị hỗ trợ, khi hoạt động giảm thiểu ô nhiễm môi trường và cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động sản phẩm mầu mã đẹp, chất lượng sản phẩm cao (đạt mác từ 75 đến 200)
- Đầu tư xây dựng nhà máy nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng, phù hợp với xu thế xây dựng ngày càng phát triển của Tỉnh trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá.
- Đầu tư xây dựng nhà máy thuận tiện cho việc tận dụng lao động tại chỗ giải quyết thêm việc làm cho người lao động, thúc đẩy phát triển kinh tế của địa phương  tạo thêm việc làm cho lao động tại địa phương.
- Đầu tư xây dựng nhà máy phù hợp với chủ trương của chính phủ, Bộ Xây dựng nhằm thực hiện Quyết định số 121/2008/QĐ-TTg ngày 29/08/2008 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển VLXD Việt Nam đến năm 2020, và Chỉ thị số: 10/CT-TTg ngày 16/04/2012 của của Thủ tướng Chính phủ về việc "Tăng cường sử dụng vật liệu không nung và hạn chế sản xuât, sử dụng gạch đất sét nung";
Như vậy đầu tư xây dựng nhà máy gạch không nung Lai Châu giai đoạn này của tỉnh là phù hợp nhằm ổn định thị trường gạch chỉ xây dựng trong tỉnh khi các lò thủ công bị dẹp bỏ.






Read more…

MÁY ÉP GẠCH KHÔNG NUNG : 3 BƯỚC KIỂM TRA NHANH MÁY ÉP GẠCH KHI MÁY KHÔNG ÉP ĐƯỢC GẠCH LỖ

19:30 |
MÁY ÉP GẠCH KHÔNG NUNG : 3 BƯỚC KIỂM TRA NHANH MÁY ÉP GẠCH KHI MÁY KHÔNG ÉP ĐƯỢC GẠCH LỖ

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc máy ép gạch không nung không ép được gạch lỗ dọc. Đặc biệt là một số mẫu gạch lỗ có hình dáng giống các loại gạch nung truyền thống2,4,6 lỗ… Để tiết kiệm thời gian cũng như chi phí cho khách hàng, chúng tôi sẽ hướng dẫn cách kiểm tra máy ép gạch và khắc phục hiện tượng này.

1. Nguyên liệu đầu vào cho máy ép gạch
Kiểm tra nguyên liệu ép gạch trước khi sản xuất từ đó đưa ra bài phối liệu phù hợp. Thời gian và độ ẩm của nguyên liệu quyết định rất nhiều đến chất lượng sản phẩm gạch

- Mạt đá: cỡ hạt 0,5 (5mm), yêu cầu cỡ hạt đồng đều, tỷ lệ bột có trong mạt không quá 30%

- Cát nước ngọt: yêu cầu cát sạch, lẫn ít tạp chất

- Xi măng: yêu cầu loại PC30 hoặc PC40 đều được

Kiểm tra nguyên liệu ép gạch khi gặp hiện tượng không ép được gạch trong ca sản xuất. Nguyên liệu sau khi trộn có thể bị khô quá hoặc ướt quá dẫn đến gạch ép ra không đạt kích thước hoặc hình dạng. Cách khắc phục: dừng máy, thu phần nguyên liệu còn lại về máy trộn, gia giảm các thành phần nguyên liệu trộn lại sau đó sản xuất tiếp đồng thời kiểm tra các phần thiết bị cấp liệu và khuôn máy ép gạch( xem mục 3). Cách nhận biết liệu chưa đạt:

+ Nguyên liệu khô gây hiện tượng gạch hình thành ko kết dính (bở từng mảng hoặc rời từng phần khi vừa được đưa ra sau khi ép)

+ Nguyên liệu ướt gây hiện tượng bám dính trong khuôn. Không nhả được gạch xuống Pallet

2. Thông số vận hành máy ép gạch
Thao tác ép gạch lỗ trên máy ép gạch block phức tạp hơn so với ép loại gạch đặc. Nhất là khi máy gạch vận hành ở chế độ tự động

- Tần số rung: với dòng máy QTY dao động trong khoảng 2850 – 4500 lần/phút.

- Lực ép: áp lực cho đầu ép thủy lực tăng dần ứng với các loại gạch 2 lỗ, 3 lỗ 4 lỗ…Với những đời máy cao năng suất lớn cũng đòi hỏi lực ép lớn hơn.

- Thời gian xe liệu vào cấp liệu và thời gian ép phải tăng lên so với gạch đặc

- Số lần cấp liệu và số lần ép cũng tăng lên đáng kể so với chu trình ép gạch không nung thông thường; khi ép loại gạch lỗ thao tác ép sẽ chia làm nhiều lần hơn.

3. Thiết bị của máy ép gạch
- Khuôn: sau khi sản xuất chưa vệ sinh sạch hoặc trong quá trình sản xuất có phát sinh những mảng bám nguyên liệu trên khuôn. Cần dừng máy vệ sinh khuôn rồi mới sản xuất tiếp.

- Cánh khuấy (cánh gạt) của xe cấp liệu: trong quá trình sản xuất có phát sinh những mảng bám nguyên liệu trên khuôn. Cần dừng máy vệ sinh cánh gạt và xe liệu rồi mới sản xuất tiếp.

Cuối cùng máy ép gạch vẫn chưa ép được viên gạch như yêu cầu xin hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn trực tiếp.Hotline: 0919.937.112 –: 0912.628.539





Read more…

Sản xuất gạch không nung polymer hóa từ phế thải

16:21 |
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chương trình phát triển vật liệu không nung đến năm 2020, nhằm tận dụng tối đa các nguồn nguyên liệu từ đất xấu, tro bụi, cát, phế thải rắn sạch của các ngành công nghiệp khai khoáng và xây dựng.

Đây là một giải pháp sáng tạo mới, tận dụng tối đa các nguồn nguyên liệu từ đất xấu, tro bụi, cát và phế thải rắn sạch của các ngành công nghiệp khai khoáng xây dựng.

Các sản phẩm được tạo ra như gạch xây, gạch lát vỉa hè, gạch ốp lát, gạch trang trí, ngói, làm đường giao thông... đã góp phần hạn chế tối thiểu tình trạng ô nhiễm từ các lò gạch truyền thống làm ảnh hưởng lớn đến môi trường.


Hiện nay, gạch không nung đã được ứng dụng nhiều trên thế giới, nhưng chủ yếu là gạch silicat, gạch bê tông siêu nhẹ AAC, gạch bọt... còn gạch polymer hóa đất thì ít phát triển vì phụ thuộc vào điều kiện tài nguyên đất và công nghệ chuyên sâu, phần lớn được làm từ nguyên liệu đất sét.

Công nghệ "Đất hóa đá" đã áp dụng cơ chế polymer hóa vô cơ gián tiếp, đây là một quy trình tổng hợp không qua công đoạn xử lý nhiệt nên không làm ảnh hưởng đến môi trường.

Công nghệ này tiện lợi cho người sử dụng, đem lại hiệu quả kinh tế cao, giúp xóa đói giảm nghèo cho các vùng sâu, vùng xa, vùng núi nhờ việc dùng nguyên liệu tại chỗ ép thành gạch, dùng luôn hồ vữa đó để dán các mạch vữa mỏng, tường nhẵn không phải chát.

Ngoài ra công nghệ này không phải qua khâu nung đốt giúp tiết kiệm năng lượng, không gây ô nhiễm môi trường, làm sạch môi trường (do tận dụng nhiên liệu là phế thải rắn trong công nghiệp).

Công ty Cổ phần Biển Bạc  là một trong những đơn vị ứng dụng Công nghệ sản xuất gạch không nung polymer hóa từ đất và các loại phế thải rắn sạch “Đất hóa thạch.”

Đặc biệt, xuất đầu tư cho một đơn vị sản phẩm gạch không nung từ đất và phế thải Biển Bạc chỉ bằng 70% xuất đầu tư cho một đơn vị sản xuất gạch nung cùng loại.


 


Read more…

'Sản xuất gạch không nung sản xuất từ phế phẩm nông nghiệp'

16:16 |
Công nghệ sản xuất gạch không nung từ phế phẩm nông nghiệp thân thiện với môi trường.

Gạch không nung làm từ phế phẩm nông nghiệp
Ưu điểm của loại gạch này là thiết bị công nghệ hoàn toàn do tự sáng chế, vận hành đơn giản, không phụ thuộc vào việc nhập thiết bị và công nghệ của nước ngoài.
Nếu sản suất đầu tư nhỏ chỉ cần tối thiểu khoảng 300m2 đất và 500 triệu đồng là có thể sản xuất ra loại gạch xây dựng phù hợp với nông thôn miền núi, thay thế các lò gạch đất nung thủ công hiện đang gây ô nhiễm môi trường.
Công Ty Biển Bạc cho biết quy trình sản xuất loại gạch này rất đơn giản, từ những phế phẩm nông nghiệp như rơm rạ, cỏ cây được nghiền nhỏ, sau đó trộn với tro bay là phế phẩm của nhà máy nhiệt điện rồi trộn với nước và xi măng theo một tỷ lệ nhất định tạo thành một hỗn hợp và được cho vào khuôn, dưới tác dụng của lực nén chúng sẽ được ép lại, sau đó mang phơi và bảo quản trong vòng một tuần là có thể sử dụng như một viên gạch bình thường.

Do làm từ những phế phẩm nông nghiệp, nên tỷ trọng của những viên gạch này nhẹ hơn so với gạch đất nung, độ uốn gấp ba lần các loại gạch khác, thích hợp với việc xây dựng cho các công trình cao tầng hay xây dựng nhà tại các vùng sâu, vùng xa có địa hình xấu khó vận chuyển vật liệu.
Bên cạnh đó, cường độ chịu nén sau khi sốc nhiệt 10 chu kỳ tăng lên chứng tỏ tuổi thọ của gạch rất cao và loại gạch này hoàn toàn dùng vữa xi măng cát bình thường như vữa xây gạch đất nung nên rất tiện lợi cho việc xây trát truyền thống.
Đặc biệt, chi phí làm ra loại gạch này chỉ bằng 60% các sản phẩm nung đang bán trên thị trường.
Sản phẩm gạch không nung từ phế phẩm nông nghiệp thân thiện với môi trường của Công Ty Biển Bạc đã được cấp bằng sáng chế số 9298 do Cục sở hữu trí tuệ cấp ngày 31/3/2012 và được Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội cấp giấy chứng nhận Doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ.
Theo thống kê, với tốc độ xây dựng như hiện nay, nếu sử dụng gạch nung từ đất thì mỗi năm Việt Nam sẽ mất đi 30.000ha đất canh tác dành cho nông nghiệp, tương đương mất đi một xã.
Việc tận dụng những phế phẩm nông nghiệp không chỉ giúp tiết kiệm tài nguyên khoáng sản mang lại nguồn lợi kinh tế, giúp cải thiện môi trường mà còn có thể mang lại công ăn việc làm cho những nông dân lúc nông nhàn.
Hàng năm, ngành nông nghiệp Việt Nam thải ra hàng trăm nghìn tấn phế phẩm, đây được coi là một nguồn tài nguyên quý giá. Tuy nhiên, do những hạn chế về trình độ khoa học công nghệ mà nguồn tài nguyên này đang bị lãng phí hoặc bị sử dụng sai mục đích, điều này không chỉ gây ra sự lãng phí mà còn gây ô nhiễm môi trường. Hiện tượng đốt rơm rạ tràn lan sau mỗi vụ gặt là một ví dụ điển hình cho bất cập này.
Read more…

Chế tạo gạch không nung từ giấy

16:07 |
Sau 7 tháng nghiên cứu, Nguyễn Cao Hoàng Sang (ngành xây dựng ĐH Kiến trúc TP HCM) chế tạo thành công gạch không nung làm từ giấy phế thải.

Vật liệu xây dựng mới thân thiện với môi trường

Công trình nghiên cứu khoa học được các chuyên gia đánh giá cao về khả năng ứng dụng vào thực tế. Đề tài cũng đạt giải nhất Giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học Euréka 2014 do Thành đoàn TP HCM phối hợp với ĐH Quốc gia tổ chức.

Chế tạo gạch không nung từ giấy

Nguyễn Cao Hoàng Sang (thứ hai từ phải sang) giới thiệu mô hình mẫu thử gạch không nung làm từ giấy phế liệu cho các bạn trẻ.

Vật liệu thân thiện môi trường

Hoàng Sang trăn trở từ lâu, suy nghĩ tìm nhiều giải pháp nghiên cứu, sản xuất ra nguyên liệu thân thiện với môi trường. Sang tham khảo tài liệu thấy nhiều nhóm sinh viên đi trước từng nghiên cứu, chế tạo thành công bê tông xốp, bê tông dừa nhưng hiệu quả không cao khi giá thành cao và còn nhiều hạn chế.

Từ đó, Sang nghĩ ra làm gạch không nung với nguyên liệu giấy vụn phế liệu để đón đầu xu thế trong ngành xây dựng.

Ban đầu Sang đi gom giấy phế liệu từ khắp mọi nguồn có thể từ lớp học, tiệm photocopy, nhà sách... đem về xay nhỏ và trộn với cát, xi măng để tạo thành hỗn hợp bê tông đúc gạch. Hai thành phần chính tạo thành gạch không nung này là chất kết dính và cốt liệu.

Trong đó, chất kết dính gồm xi măng và nước. Còn cốt liệu là bột giấy và cát. Tùy vào mục đích sử dụng mà thay đổi tỉ lệ cấp phối để tạo ra sản phẩm gạch không nung như mong muốn.

Sang cho biết, anh đã tạo ra hai loại gạch gồm: gạch chịu được 35 kg lực để xây vách ngăn trong nhà, thay thế cho gạch nung đất sét truyền thống bốn lỗ và gạch chịu được 75 kg lực dùng để xây dựng bao che bên ngoài, thay thế cho loại gạch thẻ hai lỗ, làm từ đất sét nung, đang sử dụng phổ biến trong ngành xây dựng công trình cao tầng hiện nay.

Để chế tạo gạch không nung, Sang phải nghiên cứu và chế tạo máy xay giấy với các bộ phận: thùng đựng, khung đỡ động cơ, lưỡi dao, mũi khoan, động cơ...

Nghiên cứu tạo ra hai loại gạch kể trên, Sang đúc bảy loại gạch khác nhau để xác định sơ bộ cấp phối, bề mặt sau khi khô và trọng lượng thể tích của gạch.

Sau đó, Sang tiếp tục đúc gạch để xác định cường độ chịu lực của từng loại gạch. Khâu cuối cùng, Sang lấy hai loại gạch trên ngâm vào nước trong một tuần. Khi lấy ra cạnh không bị bong tróc và đảm bảo độ cứng cần thiết. Đến phần thử nhiệt, gạch được đốt trên bếp dầu, trong 30 phút mà không bị bắt lửa, không cháy ngầm.

Sang chia sẻ: “Giai đoạn thử cường độ chịu lực của gạch là khâu rất quan trọng để xác định gạch có đạt tiêu chuẩn sử dụng hay không. Cường độ chịu lực của gạch được biểu thị bằng giới hạn sức chịu nén, sức chịu uốn, sức chịu kéo, sức chịu cắt. Phải đạt được các tiêu chuẩn này mới gọi là ổn”.

Có khả năng cạnh tranh

Gạch không nung làm từ giấy phế liệu có quy trình sản xuất đơn giản, có thể ứng dụng cho các xưởng sản xuất gạch nhỏ, vốn đầu tư ban đầu thấp. Loại gạch này thân thiện với môi trường, đảm bảo khả năng chịu lực, cách âm, cách nhiệt rất tốt.

Nếu đề tài của Sang được áp dụng sản xuất vào thực tế thì giá mỗi viên gạch không nung từ giấy phế liệu khoảng 6.000 đồng.

“Ưu điểm nổi trội của gạch làm từ giấy phế liệu là nhẹ. Vì vậy công nhân thi công sẽ dễ dàng, chủ đầu tư giảm được chi phí làm nền móng. Khả năng cách âm, cách nhiệt của gạch do Sang chế tạo cũng cao hơn gạch ximăng cốt liệu, tính cạnh tranh sẽ cao khi bán ra thị trường” - Sang chia sẻ.

Khi đưa vào sản xuất đại trà, gạch từ giấy phế liệu còn tận dụng được mùn thải ở các nhà máy giấy, giảm được nguy cơ ô nhiễm môi trường rất cao.

Thời gian sắp tới, chàng kỹ sư xây dựng này sẽ nghiên cứu chế tạo một loại phụ gia trong xây dựng nhằm kết dính loại gạch không nung từ giấy phế liệu để nâng cao hiệu quả áp dụng vào thực tế.

Phụ lục trang web:
1. Máy gạch thủy lực
   - Dây chuyền sản xuất gạch blcok xi măng cốt liệu tự động hoàn toàn
   - Dây chuyền sản xuất gạch không nung thủy lực tự động hoàn toàn QTY4 -15A
   - Dây chuyền sản xuất gạch không nung xi măng cốt liệu QT6 -15A
   - Dây chuyền sản xuất gạch không nung xi măng cốt liệu QT8 -15A
   - Dây chuyền sản xuất gạch không nung xi măng cốt liệu QTY10-15A 
   - Dây chuyền sản xuất gạch không nung qty4-15
   - Máy sản xuất gạch không nung | máy ép gạch block QT4 – 15B
   - Máy ép gạch bê tông bán tự động QT4-20
   - Dây chuyền sản xuất gạch block xi măng cốt liệu hệ thủy lực ( BB-B-40)
   - Dây chuyền sản xuất gạch blcok xi măng cốt liệu BB-B-60
2.Máy gạch Cơ khí
   - Máy gạch không nung sản xuất gạch 4 lỗ 80*80*180 mm
   - Máy ép gạch không nung hệ cơ khí 2 trục 8 viên (BB-C-2-18)
   - Dây chuyền sản xuất gạch không nung bán tự động BB-CB18
   - Máy ép gạch không nung hệ cơ khí 4 trục 10 viên BB-C-4-10
   - Máy ép gạch không nung hệ cơ khí 2 trục 8 viên (BB-C-2-8)
 


Read more…

Vật liệu xây dựng không nung bảo vệ tài nguyên, môi trường

16:03 |

Với lợi ích to lớn góp phần tiết kiệm tài nguyên, đặc biệt là đất nông nghiệp, giảm thiểu khí phát thải gây ô nhiễm môi trường, giảm chi phí xử lý phế thải của các ngành công nghiệp, tiết kiệm nhiên liệu than, đem lại hiệu quả kinh tế chung cho toàn xã hội, vật liệu xây không nung đã được phát triển ở nhiều nước trên thế giới từ lâu.


Gạch, ngói và vật liệu không nung. 
Nhưng ở Việt Nam, dù nguồn nguyên liệu dồi dào, khí hậu nóng ẩm nhiệt đới rất cần áp dụng, vật liệu xây không nung lại vẫn “giẫm chân tại chỗ,” mà trong đó có nguyên nhân từ việc cụ thể hóa các cơ chế chính sách.

Mỗi năm mất hơn 1.000 ha đất nông nghiệp

Theo tiến sỹ Thái Duy Sâm và các nhà khoa học ở Viện Vật liệu xây dựng thuộc Bộ Xây dựng, dự báo nhu cầu vật liệu xây ở Việt Nam đến năm 2020 vào khoảng 41-43 tỷ viên gạch (quy tiêu chuẩn)/năm.

Nếu sản xuất gạch đất sét nung với số lượng này phải tiêu tốn khoảng 57-60 triệu m3 đất sét và 5,3-5,6 triệu tấn than. Như vậy, mức độ hao hụt của đất nông nghiệp là vô cùng lớn, chưa kể đến sự ô nhiễm môi trường và lãng phí tài nguyên không tái tạo được.

Không những mất đất nông nghiệp, khói đốt lò gạch thủ công đã trở thành nỗi lo hàng chục năm nay của nhiều hộ gia đình ở khu vực nông thôn bởi nguồn phát thải ảnh hưởng đến sức khỏe con người và gây mất mùa cho một số diện tích canh tác. Không những thế, nhiều chủ lò gạch còn ngang nhiên vi phạm luật đất đai, luật đê điều để lấy đất làm gạch...

Những năm gần đây, nhiều doanh nghiệp và địa phương đã giảm bớt các lò gạch thủ công, đầu tư các lò nung tuynen để sản xuất gạch xây. Tuy nhiên, cho dù có cải tiến công nghệ, gạch xây bằng đất sét nung vẫn có rất nhiều hạn chế khi phải mất lượng lớn đất, nhiên liệu và phát thải nhiều loại khí độc hại.

Nhằm giảm thiểu việc sản xuất và sử dụng gạch đất sét nung, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 567/QĐ-TTg ngày 28/4/2010 về phê duyệt Chương trình phát triển vật liệu xây không nung đến năm 2020, với mục tiêu phát triển sản xuất và sử dụng vật liệu xây không nung để thay thế gạch đất sét nung đạt tỷ lệ từ 20-25% vào năm 2015, 30-40% vào năm 2020.

Đồng thời, hàng năm sử dụng khoảng 15-20 triệu tấn phế thải công nghiệp (tro xỉ nhiệt điện, xỉ lò cao…) để sản xuất vật liệu xây không nung, tiết kiệm được khoảng 1.000ha đất nông nghiệp và hàng trăm ha diện tích đất chứa phế thải; tiến tới xóa bỏ hoàn toàn các cơ sở sản xuất gạch đất sét nung bằng lò thủ công.

So với gạch đất sét nung, vật liệu xây không nung có nhiều ưu điểm nổi bật như nguồn nguyên liệu dồi dào, dễ kiếm, không ảnh hưởng đến đất trồng trọt, tận dụng được nguồn phế thải công nghiệp; giảm chi phí năng lượng, đặc biệt là giảm lượng khí thải, bảo vệ môi trường.

Ngoài ra, có thể sản xuất vật liệu xây không nung ở quy mô nhỏ, đơn giản, dễ tạo ra chất lượng sản phẩm theo yêu cầu về cường độ, kích thước, có độ chính xác cao. Một ưu điểm nổi bật nữa là một số vật liệu xây không nung nhẹ, cách nhiệt, cách âm tốt, góp phần tiết kiệm năng lượng trong điều kiện thời tiết nóng ẩm ở Việt Nam.

Có thể lấy ví dụ: giữa xây tường bằng gạch tuynen hai lỗ thông dụng với một loại vật liệu xây không nung là gạch blốc rỗng SHB2-150 có kích thước 390x150x190mm cho thấy xây gạch blốc tiết kiệm vữa 60%, thời gian xây 1m2 giảm 60%, giá viên gạch đã quy kích thước tiêu chuẩn giảm 25%...

Nhiều cơ chế khuyến khích phát triển vật liệu xây không nung

Hiện nay, cả nước có khoảng gần 900 cơ sở sản xuất vật liệu xây không nung, với tổng công suất 1.529 triệu viên (quy tiêu chuẩn)/năm. Tính cả khoảng 350 cơ sở sản xuất có công suất rất nhỏ (dưới 1 triệu viên/năm), tổng công suất gạch không nung là khoảng 1.700 triệu viên/năm.

Theo đánh giá chung, sản xuất vật liệu xây không nung vẫn chủ yếu ở quy mô rất nhỏ bé, manh mún, tự phát, tỷ lệ cơ sở sản xuất có công suất vừa và lớn tương đối thấp (28%). Việt Nam chưa có một số loại gạch không nung như gạch silicat, gạch bêtông khí chưng áp... mà các loại này tương đối phổ biến ở nhiều nước trên thế giới.

Theo tiến sỹ Trần Văn Huynh, Chủ tịch Hội Vật liệu xây dựng Việt Nam, với hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn, việc thay thế gạch đất sét nung bằng vật liệu xây không nung sẽ là một xu thế phát triển. Tuy nhiên, vướng mắc hiện nay chính là cơ chế chính sách và thói quen của ngưới tiêu dùng.

Hiện nay, các tiêu chuẩn liên quan đến yêu cầu thiết kế, hướng dẫn thi công xây dựng và nghiệm thu chưa cụ thể hóa cho từng đối tượng sản phẩm vật liệu xây không nung. Do đó, nhà tư vấn thiết kế chưa mạnh dạn thiết kế đưa sản phẩm vật liệu xây không nung vào phổ cập trong các công trình xây dựng.

Ông Lê Văn Tới, Vụ trưởng Vụ Vật liệu xây dựng thuộc Bộ Xây dựng cho biết từ năm 2001, Trung Quốc đã ban hành danh sách 170 thành phố cấm sử dụng gạch đặc đất sét nung vào xây dựng công trình; quy định thu thêm một loại phí đối với kiến trúc nhà sử dụng gạch đất sét nung.

Trong khi đó, ở Thái Lan, không cần ban hành chính sách khuyến khích vật liệu xây không nung nhưng Nhà nước quản lý chặt việc sử dụng đất đai. Do đó, vật liệu nung có giá cao hơn rất nhiều vật liệu xây không nung. Yếu tố thị trường điều tiết khiến công nghiệp vật liệu xây không nung ở Thái Lan rất phát triển như bêtông nhẹ đã có cách đây 10 năm.

Theo Chương trình phát triển vật liệu xây không nung đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, từ năm 2011, các công trình nhà cao tầng (từ 9 tầng trở lên) phải sử dụng tối thiểu 30% vật liệu xây không nung loại nhẹ (khối lượng thể tích không lớn hơn 1.000kg/m3) trong tổng số vật liệu xây; khuyến khích các công trình xây dựng sử dụng vật liệu xây không nung khác có độ rỗng lớn hơn 30% và vật liệu xây không nung loại nhẹ.

Để khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư sản xuất và kinh doanh vật liệu xây không nung, Nhà nước đã ban hành các cơ chế chính sách ưu đãi về thuế nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp; các dự án chế tạo thiết bị sản xuất vật liệu xây không nung nhẹ và sản xuất gạch xi măng - cốt liệu công suất từ 7 triệu viên quy tiêu chuẩn/năm trở lên được hưởng ưu đãi như đối với các dự án thuộc chương trình cơ khí trọng điểm...

Chính phủ cũng giao cho Bộ Xây dựng chủ trì phối hợp với các bộ, ngành liên quan thực hiện các giải pháp về khoa học công nghệ để phát triển sản xuất và sử dụng vật liệu xây không nung; lập danh mục các loại thiết bị, vật tư sản xuất vật liệu xây không nung được miễn thuế nhập khẩu; xây dựng lộ trình và đôn đốc thực hiện việc xóa bỏ lò gạch thủ công theo các vùng, miền; tổ chức việc thông tin, tuyên truyền về sản xuất, sử dụng vật liệu xây không nung.




Read more…

Vật liệu xây dựng không nung và các tiêu chuẩn về vật liệu không nung

21:25 |
I. Vật liệu xây dựng không nung
1. Mô tả chung về gạch không nung

Về bản chất của sự liên kết tạo hình, gạch không nung khác hẳn gạch đất nung. Quá trình sử dụng gạch không nung, do các phản ứng hoá đá của nó trong hỗn hợp tạo gạch sẽ tăng dần độ bền theo thời gian. Tất cả các tổng kết và thử nghiệm trên đã được cấp giấy chứng nhận: Độ bền, độ rắn viên gạch không nung tốt hơn gạch đất sét nung đỏ và đã được kiểm chứng ở tất cả các nước trên thế giới: Mỹ, Đức, Trung Quốc, Nhật Bản,...

Gạch không nung ở Việt Nam đôi khi còn được gọi là gạch block, gạch blốc, gạch bê tông, gạch block bê tông,... tuy nhiên với cách gọi này thì không phản ánh đầy đủ khái niệm về gạch không nung. Mặc dù gạch không nung được dùng phổ biến trên thế giới nhưng ở Việt Nam gạch không nung vẫn chiếm tỉ lệ thấp .

Gạch nung có khoảng từ 70 đến 100 tiêu chuẩn quốc tế, với kích thước tiêu chuẩn khác nhau. Tại Việt Nam gạch này có kích thước phổ biến là 210x100x60mm, gạch không nung thì có khoảng 300 tiêu chuẩn quốc tế khác nhau với kích cỡ viên gạch khác nhau, sức nén viên gạch không nung tối đa đạt 35MPa.

Sản phẩm gạch không nung có nhiều chủng loại trên một loại gạch để có thể sử dụng rộng rãi từ những công trình phụ trợ nhỏ đến các công trình kiến trúc cao tầng, giá thành phù hợp với từng công trình. Có nhiều loại dùng để xây tường, lát nền, kè đê và trang trí... Hiện nay, gạch không nung đã khẳng định chỗ đứng vững chắc trong các công trình, nó đang dần trở lên phổ biến hơn và được ưu tiên phát triển. Có rất nhiều công trình sử dụng gạch không nung, từ công trỉnh nhỏ lẻ, phụ trợ cho đến các công trình dân dụng, đình chùa, nhà hàng, sân gôn, khu nghỉ dưỡng, cao ốc,... Một số công trình điển hình như: Keangnam Hà Nội Landmard Tower (đường Phạm Hùng, Hà Nội), Habico Tower (đường Phạm Văn Đồng, Hà Nội), Khách sạn Horinson (Hà Nội), Hà Nội Hotel Plaza (đường Trần Duy Hưng, Hà Nội), Sông Giá resort (Hải Phòng), Sân vận động Mỹ Đình (Hà Nội), Làng Việt Kiều Châu Âu (Hà Đông, Hà Nội),...

2. So sánh với gạch đất nung

So sánh hiệu quả kinh tế kỹ thuật sản xuất và sử dụng, sản phẩm vật liệu xây dựng không nung có nhiều tính chất vượt trội hơn vật liệu nung:

- Không dùng nguyên liệu đất sét để sản xuất. Đất sét chủ yếu khai thác từ đất nông nghiệp, làm giảm diện tích sản xuất cây lương thực, đang là mối đe dọa mang tính toàn cầu hiện nay.

- Không dùng nhiên liệu như than, củi.. để đốt. tiết kiệm nhiên liệu năng lượng, và không thải khói bụi gây ô nhiễm môi trường.

- Sản phẩm có tính chịu lực cao, cách âm, cách nhiệt phòng hoả, chống thấm, chống nước, kích thước chuẩn xác, quy cách hoàn hảo hơn vật liệu nung. Giảm thiểu được kết cấu cốt thép, rút ngắn thời gian thi công, tích kiệm vữa xây, giá thành hạ.

- Có thể tạo đa dạng loại hình sản phẩm, nhiều màu sắc khác nhau, kích thước khác nhau, thích ứng tính đa dạng trong xây dựng, nâng cao hiệu quả kiến trúc.

- Cơ sở sản xuất có thể phát triển theo nhiều quy mô khác nhau, không bị khống chế nhiều về mặt bằng sản xuất. Suất đầu tư thấp hơn vật liệu nung…

- Được sản xuất từ công nghệ, thiết bị tiên tiến của quốc tế, nó có các giải pháp khống chế và sự đảm bảo chất lượng hoàn thiện, quy cách sản phẩm chuẩn xác. Có hiệu quả trong xây dựng rõ ràng, phù hợp với các TCVN. Các đặc điểm công nghệ gạch không nung

- Nguyên liệu đầu vào thuận lợi không kén chọn nhiều vô tận.
- Máy móc thiết bị dây chuyền tự sản xuất chế tạo được cả trong và ngoài nước.
- Xây dựng nhà máy ở khắp mọi địa hình từ hải đảo tới đỉnh núi cao.
- Phụ gia vật tư sẵn có trên thị trường.
- Sản xuất từ thủ công tới tự động hóa hoàn toàn
- Chất lượng viên gạch tiêu chuẩn tốt.
- Giá thành hạ hơn so với gạch nung.

3. Lợi ích của gạch không nung

Hiện nay trên thế giới đã áp dụng nhiều công nghệ sản xuất vật liệu xây dựng không nung, nhằm giảm thiểu sự ô nhiễm môi trường trong quá trình khai thác, sản xuất và đã mang lại nhiều kết quả tích cực như: tận dụng được nhiều nguồn nguyên liệu rẻ tiền hiện có tại các vùng miền, tạo ra được nhiều loại VLXD có giá thành thấp,... Ngoài ra vật liệu xây dựng không nung còn mang lại hiệu quả kinh tế cao cho các chủ thể trong ngành công nghiệp xây dựng như: chủ đầu tư chủ thầu thi công, nhà sản xuất vật liệu xâ dựng và cuối cùng là lợi ích của người tiêu dùng.

4. Lợi ích xã hội

Theo ước tính, mỗi năm nước ta tiêu thụ khoảng 20 tỉ viên gạch. Với đà phát triển này, đến năm 2020, lượng gạch cần cho xây dựng là hơn 40 tỉ viên/1 năm.

Để đạt được số lượng gạch trên, nếu dùng đất nung thì sẽ mất rất nhiều đất canh tác, sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh lương thực, và phải sử dụng một lượng than hóa thạch khổng lồ, kèm theo đó là một lượng củi đốt rất lớn dẫn đến chặt phá rừng, mất cân bằng sinh thái, hậu họa của thiên tai, và nghiêm trọng hơn nữa nó còn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng đến môi trường vật nuôi, sức khỏe con người, và hậu quả để lại còn lâu dài.

Khi sử dụng công nghệ gạch không nung sẽ khắc phục được những nhược điểm trên, đem lại công việc ổn định cho người lao động, phù hợp với chủ chương chính sách của đảng, nhà nước và nguyện vọng của nhân dân, tiết kiệm được thời gian và tiền bạc đem lại lợi ích cho xã hội.
Sử dụng gạch không nung cho công trình bền đẹp, hiệu quả kinh tế cao.

5. Thân thiện môi trường

Khi sử dụng gạch đất sét, chúng ta phải sử dụng nguồn đất khai thác từ đất ruộng, đất phù sa, đất sét… tức là nguồn tài nguyên rất quý hiếm của một quốc gia, hiện nay, nguồn tài nguyên này đã bắt đầu đang cạn kiệt và chắc chắn sẽ không còn nhiều trong tương lai. Lượng đất sét này, chúng ta có thể dùng vào việc sản xuất các sản phẩm cao cấp hơn, thẩm mỹ hơn, mang lại giá trị kinh tế hơn thay cho việc sản xuất gạch xây thông thường. Mặt khác, trong quá trình sản xuất gạch đất sét nung, khi nung gạch đỏ sẽ gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường xung quanh. Ở khắp nơi trên từ Nam ra Bắc, đi đâu chúng ta cũng có thể nhìn thấy các lò gạch xả khói bụi, ô nhiễm môi trường, làm thiệt hại đến mùa màng trong vùng lân cận. Gạch không nung sử dụng các nguồn nguyên vật liệu chính trong tự nhiên như: đá, cát, xi măng,... Các loại nguyên vật liệu này có mặt ở khắp nơi, việc khai thác và sử dụng chúng không gây tác động đến môi trường tự nhiên của quốc gia. Có thể nói, gạch không nung không chỉ là sản phẩm gạch xây thông thường mà khi sử dụng, nó còn mang giá trị nhân văn cao cả vì nó bảo vệ môi trường, bảo vệ cuộc sống của chúng ta.

Quá trình sản xuất gạch không nung không sinh ra chất gây ô nhiễm, không tạo ra chất phế thải hoặc chất thải độc hại. Năng lượng tiêu thụ trong quá trình sản xuất gạch không nung chiếm một phần nhỏ so với quá trình sản xuất các vật liệu khác.

Gạch không nung bảo vệ ngôi nhà của bạn thông qua tính năng làm giảm sự tác động của môi trường bên ngoài, giúp tiết kiệm năng lượng trong việc làm mát (hoặc làm ấm) cho ngôi nhà.
Ngoài ra, một trong những ưu điểm lớn của Gạch không nung là nó có thể làm giảm khả năng tác động của nhiệt độ bên ngoài và làm tăng hiệu quả sử dụng năng lượng bên trong của tòa nhà.

6. Ưu điểm của gạch không nung

Độ cứng cao, bảo ôn, cách nhiệt tốt có thể thay thế hoàn toàn các loại vật liệu cách nhiệt hiện có trên thị trường, phòng hoả, chống thấm, chống nước, kích thước chuẩn xác, quy cách hoàn hoản… nâng cao hiệu quả kiến trúc, giảm thiểu được kết cấu cốt thép, rút ngắn thời gian thi công, tích kiệm vữa xây, giá thành hạ.

Sản phẩm gạch không nung có nhiều chủng loại trên một loại gạch để có thể sử dụng rộng rãi từ những công trình phụ trợ nhỏ đến các công trình kiến trúc cao tầng, giá thành phù hợp với từng công trình. Có nhiều loại dùng để xây tường, lát nền, kè đê và trang trí.

Gạch không nung được sản xuất từ công nghệ, thiết bị tiên tiến của quốc tế, nó có các giả pháp khống chế và sự đảm bảo chất lượng hoàn thiện, quy cách sản phẩm chuẩn xác. Có hiệu quả trong xây dựng rõ ràng, phù hợp với các TCVN do Bộ Xây dựng công bố. Nó đã tổng hợp được các tính năng ưu việt, là loại vật liệu xây dựng mới tiết kiệm năng lượng, hiện nay nước ta đang đẩy mạnh mở rộng sử dụng loại vật liệu này.

7. Nhược điểm của gạch không nung

Khả năng chịu lực theo phương ngang yếu, không linh hoạt khi thiết kế kiến trúc với nhiều góc cạnh, không có khả năng chống thấm tốt.

Tiết kiệm hàng triệu mét khối đất

Ðể sản xuất một tỷ viên gạch đất sét nung có kích thước tiêu chuẩn sẽ tiêu tốn khoảng 1.500.000 m3 đất sét, tương đương 75 ha đất nông nghiệp (độ sâu khai thác là 2 m) và 150.000 tấn than, đồng thời thải ra khoảng 0,57 triệu tấn khí CO2 - gây hiệu ứng nhà kính và các khí thải độc hại khác gây ô nhiễm môi trường

Theo quy hoạch tổng thể phát triển vật liệu xây dựng đến năm 2020, nhu cầu sử dụng vật liệu xây tương ứng khoảng 42 tỷ viên gạch quy chuẩn. Nếu đáp ứng nhu cầu này bằng gạch đất sét nung sẽ tiêu tốn khoảng 57 đến 60 triệu m3 đất sét tương đương với 2.800 đến 3.000ha đất nông nghiệp; tiêu tốn từ 5,3 đến 5,6 triệu tấn than, thải ra khoảng 17 triệu tấn khí CO2 gây hiệu ứng nhà kính. Vì vậy, việc thay thế gạch đất sét nung bằng VLXKN có ưu điểm lớn nhất là hạn chế được các tác động bất lợi trên, bảo vệ môi trường, an ninh lương thực và tạo việc làm cho nông dân. Ngoài ra, với lợi thế về công nghệ, VLXKN còn biến một phần đáng kể phế thải của các ngành nhiệt điện, luyện kim, khai khoáng... thành vật liệu (ước tính đến năm 2020 lượng phế thải tro, xỉ khoảng 45 triệu tấn sẽ mất khoảng 1.100ha mặt bằng để chứa), đồng thời tác động tích cực đến một số lĩnh vực và chương trình khác như kích cầu tiêu thụ hàng triệu tấn xi măng mỗi năm; giảm đáng kể lượng tiêu hao than; tiết kiệm điện trong sử dụng điều hòa nhiệt độ nhờ cách nhiệt tốt; tạo điều kiện chuyển đổi một số doanh nghiệp sản xuất gạch đất sét nung bằng lò thủ công sang sản xuất VLXKN. Nhờ những ưu điểm trên, sử dụng VLXKN đã trở thành xu thế chung của các nước trên thế giới. Ở Trung Quốc, đến năm 2010 vật liệu xây kiểu mới phải chiếm tỷ lệ hơn 55%; ở Anh, VLXKN đang chiếm 60% trong tổng số vật liệu xây.

8. Phân tích ưu nhược điểm của gạch không nung theo một số phương diện

*Những ưu điểm chung
- Quá trình sản xuất gạch không nung không sử dụng đến đất nông nghiệp do đó không ảnh hưởng đến diện tích đất nông nghiệp. Mặt khác do không dùng đến than củi, … nên tiết kiệm được nhiên liệu, tránh được tình trạng phá rừng tràn lan và không gây ô nhiễm môi trường.

- Nguyên vật liệu để sản xuất gạch không nung hết sức phong phú và có sẵn trong nước như mạt đá, cát vàng, xi măng…, sản phẩm đa dạng.

- Dây chuyền sản xuất gạch sử dụng ít công nhân, do các khâu hầu hết được tự động hoá. Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, nhân lực thủ công nhiều nên có thể chỉ cần tự động hoá một số khâu quyết định chất lượng sản phẩm, còn một số khâu có thể sử dụng nhân công thủ công thì không cần tự động hoá để giảm mức đầu tư.

* Những ưu điểm của gạch không nung so với gạch nung trong việc xây nhà cao ốc và kho tàng
- Cường độ chịu lực có thể đáp ứng theo nhu cầu sử dụng. Đây là đặc tính mà gạch nung không thể chịu được. Đối với những vị trí yêu cầu cường độ rất cao (300 – 400 kg/cm2) thì gạch nung không đáp ứng được. Đối với những vị trí yêu cầu cường độ thấp (chỉ mang tính chất tường ngăn) thì cho phép giảm lượng xi măng phối liệu để đảm bảo giá thành vừa phải, tránh lãng phí.

- Khả năng cách âm, cách nhiệt, chống thấm cao. Điều này hoàn toàn phù hợp vào kết cấu của viên gạch và cấp phối vữa bê tông.

- Kích thước viên gạch lớn hơn nhiều so với gạch nung (gấp từ 2 đến 11 lần thể tích viên gạch nung), cho phép giảm được chi phí nhân công, đạt được tiến độ nhanh hơn cho các công trình xây dựng. Ngoài ra lượng vữa dùng để xây tường bằng gạch không nung và trát giảm tới 2,5 lần so với gạch đất nung.

- Có thể tiết kiểm được thời gian và tài chính, đơn giản hoá được một số khâu trong quá trình xây dựng.

- Nếu có chất độn nhẹ (ví dụ sỏi keramzit, đá basalt nhẹ, than xỉ…) thì trọng lượng viên gạch giảm đáng kể. - Đa dạng chủng loại, màu sắc, kích thước đồng đều và tính thẩm mỹ cao.

* Những ưu điểm của việc dùng gạch không nung lát đường so với các phương pháp lát đường hè khác
- Cường độ chịu lực cao
- Giảm thời gian thi công. đường, hè sau khi lát xong có thể sử dụng được ngay lập tức
- Trong quá trình thi công, gạch lát không nung không cần trát mạch, do vậy tiết kiệm vật liệu, nhân công, giảm thời gian thi công và nhất là có tác dụng thoát nước cho mặt vỉa hè.
- Khi cần thiết có thể dễ dàng thay đổi kiểu dáng và kích thước đường hoặc vỉa hè, trong quá trình sử dụng có thể dễ dàng tháo dỡ các viên gạch lát cũ để thay thế bằng các viên gạch lát mới một cách nhanh chóng
- Hình dáng hình học và màu sắc các viên gạch rất đa dạng để tăng tính thẩm mỹ.
- Do đặc điểm của gạch block là gạch bê tông tự đông cứng nên trong quá trình thi công không phụ thuộc vào thời tiết nắng mưa.

* Những nhược điểm của gạch không nung
- Giá thành cao.
- Sử dụng cát làm gạch khiến nhu cầu khai thác cát tăng cao.
- Tuy trong quá trình sản xuất và thi công ít ô nhiễm, nhưng sử dụng rất nhiều nguyên liệu thứ phẩm gây ô nhiễm như xi măng, bột nhôm...

9. Một số loại gạch không nung

* Gạch xi măng cốt liệu
Gạch không nung xi măng cốt liệu (Gạch xi măng cốt liệu) còn được gọi là gạch blốc (block) được tạo thành từ xi măng và một trong các hoặc nhiều trong các cốt liệu sau đây: mạt đá, cát vàng, cát đen, xỉ nhiệt điện, phế thải công nghiệp, đất,... Loại gạch này được sản xuất và sử dụng nhiều nhất trong các loại gạch không nung. Trong các công trình thì loại gạch không nung này chiếm tỉ trọng lớn nhất. Loại gạch này thường có cường độ chịu lực tốt (trên 80kg/cm2), tỉ trọng lớn (thường trên 1900kg/m3) nhưng những loại kết cấu lỗ thì có khối lượng thể tích nhỏ hơn (dưới 1800kg/m3).
Đây là loại gạch được khuyến khích sử dụng nhiều nhất và được ưu tiên phát triển mạnh nhất. Nó đáp ứng rất tốt các tiêu chí về kỹ thuật, kết cấu, môi trường, phương pháp thi công,...

Loại gạch này dễ sử dụng, dùng vữa thông thường.
Gạch xi măng cốt liệu không nặng như người ta tưởng
Mặc dù gạch xi măng cốt liệu bị chê nặng song thực tế là nó vẫn khẳng định được giá trị của nó trong xây dựng nói chung. Trong một công trình cao tầng, việc sử dụng gạch xi măng cốt liệu là một tất yếu vì lý do tạo đối trọng, kết cấu vững chắc với cường độ cao. Ngoài ra gạch xi măng cốt liệu có thể đạt khối lượng thể tích từ 1300 đến 1800 kg/m3 nếu dùng kết cấu lỗ. Như vậy nó chẳng những không quá nặng như người ta tưởng mà còn khẳng định được độ bền, sự vững trãi cho công trình.
VD: Những công trình cần sản phẩm gạch có cường độ 75Kg/cm2 với gạch đất nung phải dùng loại đặc tỷ trọng 1800kg/m3. Với gạch không nung xi măng cốt liệu chỉ cần dùng loại kết cấu lỗ rỗng tỷ trọng 1400kg/m3 cường độ có thể đạt trên 100kg/cm2.
Và đặc biệt giá thành của sản phẩm gạch không nung xi măng cốt liệu rất có ưu thế, hoàn toàn cạnh tranh sòng phẳng với gạch đất nung (mặc dù chính sách hạn chế gạch đất nung chưa hiệu quả tức thời).

* Gạch papanh
Gạch không nung được sản xuất từ phế thải công nghiệp: Xỉ than, vôi bột được sử dụng lâu đời ở nước ta. Gạch có cường độ thấp từ 30–50 kg/cm2 chủ yếu dùng cho các loại tường ít chịu lực.

* Gạch không nung tự nhiên
Từ các biến thể và sản phẩm phong hóa của đá bazan. Loại gạch này chủ yếu sử dụng ở các vùng có nguồn puzolan tự nhiên, hình thức sản xuất tự phát, mang tính chất địa phương, quy mô nhỏ,...

* Gạch bê tông nhẹ
Gạch bê tông nhẹ có hai loại cơ bản là gạch bê tông nhẹ bọt và gạch bê tông nhẹ khí chưng áp. Sản suất bằng công nghệ tạo bọt, khí trong kết cấu nên tỷ trọng viên gạch giảm đi nhiều và nó trở thành đặc điểm ưu việt nhất của loại gạch này. Thành phành cơ bản: Xi măng, tro bay nhiệt điện, cát mịn, phụ gia tạo bọt hoặc khí, vôi,.... Sản phẩm đã được kiểm định chất lượng vượt TCXDVN: 2004 về cường độ chịu nén đối với tỷ trọng D800. Gạch bê-tông khí chưng áp: Tên tiếng Anh là Autoclaved Aerated Concrete – gọi tắt là AAC được rất nhiều nước trên thế giới ứng dụng rộng rãi với rất nhiều ưu điểm như thân thiện với môi trường, siêu nhẹ, bền, tiết kiệm năng lượng hóa thạch do không phải nung đốt truyền thống, bảo ôn, chống cháy, cách âm, cách nhiệt, chống thấm rất tốt so với vật liệu đất sét nung. Nó còn được gọi là gạch bê-tông siêu nhẹ vì tỷ trọng chỉ bằng 1/2 hoặc thậm chí là chỉ bằng 1/3 so với gạch đất nung thông thường. Công trình xây dựng sẽ giảm tải, giảm chi phí xử lý nền móng và hệ thống kết cấu, góp phần giảm mức đầu tư xây dựng công trình từ 7- 10%, đẩy nhanh tiến độ thi công và hoàn thiện phần bao che của công trình lên 2 - 5 lần. Ngoài ra, khả năng cách âm và cách nhiệt của bê tông nhẹ rất cao, làm cho nhà ấm về mùa đông, mát về mùa hè, tiết kiệm điện năng sưởi hoặc điều hòa nhiệt độ... Kích thước thành phẩm lớn và chính xác (100mm x 200mm x 600mm) giúp rút ngắn thời gian thi công và kể cả thời gian hoàn thiện. Với thành phần cấu tạo là vật liệu trơ và các chất vô cơ, gạch bê-tông siêu nhẹ này hoàn toàn không độc hại, có độ bền rất cao và không bắt lửa. Ngoài ra, với cấu trúc thông thoáng, nó còn có thể tự khuếch tán hơi nước, giải phóng độ ẩm và loại trừ các vấn đề liên quan đến nấm mốc – đặc biệt là trong điều kiện thời tiết nắng nóng của khí hậu vùng nhiệt đới, vùng biển và vùng có độ ẩm cao như ở khu vực miền Bắc Việt Nam.
TT
Số hiệu tiêu chuẩn
Tên tiêu chuẩn
1 TCXD 123: 1984 Gạch không nung- yêu cầu kỹ thuật
2 TCXD 191: 1996 Bê tông và vật liệu làm bê tông- yêu cầu kỹ thuật
3 TCVN 7959: 2011 Bê tông nhẹ- Gạch bê tông khí chưng áp (AAC)- Yêu cầu kỹ thuật và phương pháp thử (QĐ 3628/QĐ-BKHCN)
4 TCVN 9028: 2011 Vữa cho bê tông nhẹ- Yêu cầu kỹ thuật và phương pháp thử (QĐ 3628/QĐ-BKHCN)
5 TCVN 9029: 2011 Bê tông nhẹ- Gạch bê tông bọt, khí không chưng áp- Yêu cầu kỹ thuật (QĐ 3628/QĐ-BKHCN)
6 TCVN 9030: 2011 Bê tông nhẹ- Gạch bê tông bọt, khí không chưng áp- Phương pháp thử (QĐ 3628/QĐ-BKHCN)
7 TCVN 5573: 1991 Kết cấu gạch đá và gạch đá cốt thép- Tiêu chuẩn thiết kế
8 TCVN 5674: 1992 Công tác hoàn thiện trong xây dựng- thi công và nghiệm thu
9 TCVN 7959: 2008 Blốc bê tông khí chưng áp
10 TCVN 2118: 1994 Gạch canxi- silicat- yêu cầu kỹ thuật
11 TCVN 6776: 1999 Gạch bê tông tự chèn
12 TCVN 6477: 2011 Gạch bê tông- Yêu cầu kỹ thuật và phương pháp thử (QĐ 3628/QĐ-BKHCN)
13 TCVN 5775-1: 2007 Tấm 3D dùng trong xây dựng - phần 1: quy định kỹ thuật
TCVN 5775-2: 2007
Phương pháp thử
TCVN 5775-3: 2007
Hướng dẫn lắp dựng
II. Các tiêu chuẩn về vật liệu không nung
         
Bên cạnh đó còn có các tiêu chuẩn liên quan không chỉ dành riêng cho VLXKN như yêu cầu kỹ thuật và phương pháp thử cho cốt liệu, phụ gia, nước trộn, vữa xây…
Đánh giá tổng quát và nhóm tiêu chuẩn quy chuẩn kỹ thuật cho VLXKN, trong quá trình theo dõi, quản lý công tác tiêu chuẩn chúng ta nhận thấy như sau:

1. Vữa xây trát dùng cho bê tông khí chưng áp và bê tông bọt có yêu cầu kỹ thuật và phương pháp thử khác hẳn so với gạch đất sét nung. Gạch không nung xi măng-cốt liệu có thể dùng các loại vữa xây thông thường.

2. Tiêu chuẩn thiết kế công trình sử dụng VLXKN chưa có chuyên biệt riêng, nhất là đối với bê tông nhẹ và bê tông khí chưng áp. Đối với gạch xi măng cốt liệu có thể không cần có quy định riêng và vẫn có thể sử dụng chung với tiêu chuẩn thiết kế kết cấu gạch đá bình thường.

6. Theo thông tin mới nhất, ngày 24/11/2011, Bộ Khoa học Công nghệ đã ban hành quyết định số 3628/QĐ-BKHCN về việc ban hành một số tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) về vật liệu xây không nung. Bộ Xây dựng cũng ban hành Quyết định số 947/QĐ-BXD về chỉ dẫn kỹ thuật "Thi công và nghiệm thu tường xây bằng gạch block bê tông khí chưng áp". Các văn bản này đã được thống kê ở bảng trên.

  7. Ngoài ra, Vụ Kinh tế  Xây dựng, Bộ Xây dựng đang trong giai đoạn hoàn thành "Định mức kinh tế kỹ thuật & đơn giá xây dựng Vật liệu không nung"./.

(Sưu tầm) KS. Nguyễn Hồng Phú - Trung tâm Kiến trúc Quy hoạch tỉnh Yên Bái

Read more…

GẠCH KHÔNG NUNG – 6 Bước trong quy trình sản xuất gạch xi măng cốt liệu

20:32 |
Gạch không nung xi măng cốt liệu (XMCL) là loại vật liệu xanh thay thế công nghệ gạch nung truyền thống lạc hậu ô nhiễm môi trường. Gạch XMCL công nghệ không nung này còn có rất nhiều tính năng ưu việt vì thế nó đã được thế giới sử dụng hàng trăm năm qua để thay thế công nghệ gạch nung. Ở bài viết này chúng tôi xin giới thiệu 6 bước trong quy trình sản xuất gạch không nung xi măng cốt liệu

Công nghệ sản xuất gạch xi măng cốt liệu

Giới thiệu công nghệ sản xuất gạch không nung XMCL

Sản phẩm gạch không nung XMCL có những ưu điểm vượt trội so với gạch nung như sau:

-       Nguyên liệu sản xuất là xi măng và mạt đá không sử dụng tài nguyên đất sét ruộng. Để sản xuất ra 40 tỷ viên gạch đất sét nung theo nhu cầu từ nay đến năm 2020 ước tính phải tiêu tốn 600 triệu m3 đất sét, tương đương 30.000 ha đất canh tác, sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh lương thực của Việt Nam.

-       Giảm thiểu tiêu thụ năng lượng 70 – 80% so với sản xuất gạch đất sét nung; viên gạch không nung XMCL không dùng than củi để nung gạch nên cũng không thải các khí COx, SOx, NOx độc hại gây ô nhiễm môi trường.

Quy trình công nghệ gạch không nung xi măng cốt liệu

-       Sản phẩm viên gạch XMCL có hình dạng phong phú hơn các mẫu gạch đất sét nung truyền thống và có kích thước lớn-nhỏ tùy theo yêu cầu thiết kế, kích thước mỗi viên đồng đều chính xác, vận chuyển thuận tiện, giúp người thợ xây nhanh, tăng năng suất lao động từ 3-6 lần so với gạch đất sét nung, rút ngắn tiến độ thi công công trình. Sản phẩm gạch không nung nói cách khác chính là bước đột phá trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành xây dựng.

-       Viên gạch không nung XMCL có dạng khối Block do nguyên công ép rung tạo hình và đóng rắn tự nhiên, cường độ kháng nén cao, bề mặt nhẵn, do đó sử dụng vữa xây, trát rất ít, tiết kiệm chi phí, giảm giá thành xây dựng, tuổi thọ công trình cao, chịu đựng tốt với các điều kiện thời tiết khắc nghiệt.

-       Tính năng cách âm, cách nhiệt, chống thấm cao. Vào mùa hè giảm truyền nhiệt từ bên ngoài vào, mùa đông giảm tổn thất nhiệt trong nhà, vì thế căn nhà bạn sẽ mát vào mùa hè, ấm vào mùa đông, tiết kiệm năng lượng.

-       Quy trình sản xuất tự động hóa cao, môi trường lao động an toàn, không có hiện tượng cháy lò khi nhiệt độ ngoài trời quá cao như sản xuất gạch nung truyền thống.

-       Gạch không nung XMCL là vật liệu xây dựng các công trình xanh, thân thiện môi trường sinh thái. Qua phân tích so sánh tính ưu việt của vật liệu xây dựng không nung so với gạch đất sét nung cho thấy việc phát triển đầu tư sản xuất và sử dụng gạch không nung XMCL là xu hướng tất yếu của ngành công nghiệp vật liệu xây dựng Việt Nam hiện đại, bền vững.


Quy trình sản xuất gạch không nung xi măng cốt liệu

-       (1) Cấp nguyên liệu: gồm các phễu chứa liệu (PL1200 đến PL1600), băng tải liệu, cân định lượng, bộ phận cài dặt phối liệu. Sau khi nguyên liệu được cấp đầy vào các phiễu (bằng máy xúc lật), nguyên liệu được cấp theo công thức phối trộn đã cài đặt (cấp phối bê tông).

-       (2) Máy trộn nguyên liệu: Mạt đá (cốt liệu), nước và xi măng được tự động đưa vào máy trộn tự động theo quy định cấp phối. Sau đó, hỗn hợp nguyên liệu được trộn ngấu đều theo thời gian được cài đặt. Hỗn hợp sau phối trộn được tự động đưa vào ngăn phân chia nguyên liệu ở khu vực máy tạo hình (hay máy ép tạo block (4) nhờ hệ thống băng tải.

-       (3) Khu vực chứa khay (palet) cấp palet làm đế đỡ phía dưới trong quá trình ép và chuyển gạch thành phẩm ra khỏi dây chuyền. Khay (palet) này có thể làm bằng nhựa tổng hợp hoặc tre – gỗ ép; trong quá trình làm việc chịu lực nén, rung động lớn.

-       (4) Máy ép tự động tạo hình: Nhờ vào hệ thống thủy lực, máy hoạt động theo cơ chế ép kết hợp với rung tạo ra lực rung ép rất lớn để hình thành lên các viên gạch block đồng đều, đạt chất lượng cao và ổn định. Cùng với việc phối trộn nguyên liệu, bộ phận tạo hình nhờ ép rung này là hai yếu tố vô cùng quan trọng để tạo ra sản phẩm theo như ý muốn.

-       (5) Tự động ép mặt – Máy cấp mầu: Đây là bộ phận giúp tạo màu bề mặt cho gạch tự chèn. chỉ cần thiết khi sản xuất gạch tự chèn, gạch trang trí có mầu sắc.

-       (6) Tự động chuyển gạch: Đây là máy tự động chuyển và xếp từng khay gạch vào vị trí định trước một cách tự động. Nhờ đó mà ta có thể chuyển gạch vừa sản xuất ra để dưỡng hộ hoặc tự động chuyển vào máy sấy tùy theo mô hình sản xuất.

-       Gạch được dưỡng hộ sơ bộ khoảng 1 – 1,5 ngày trong nhà xưởng có mái che, sau đó chuyển ra khu vực kho bãi thành phẩm tiếp tục dưỡng hộ một thời gian (từ 10 đến 28 ngày tùy theo yêu cầu) và đóng gói, dán nhãn mác xuất xưởng.




Read more…

Vì sao vật liệu xây dựng không nung kém phát triển?

20:27 |
Sản phẩm đề cập đến là gạch xây và ngói lợp dùng phổ biến trong xây dựng được sản xuất từ nguyên liệu và công nghệ khác nhau. Xi măng, cát, sỏi, xỉ than, đá mạt... là nguyên liệu tạo sản phẩm không qua công đoạn nung đốt. Đất sét là nguyên liệu tạo hình sản phẩm và phải qua công nghệ  đốt trong lò nung. 

So sánh hiệu quả kinh tế kỹ thuật sản xuất và sử dụng  thì  sản phẩm vật liệu xây dựng  không nung có nhiều tính chất vượt trội hơn vật liệu nung. Cụ thể là:

Không dùng nguyên liệu đất sét để sản xuất... Đất sét chủ yếu khai thác từ đất nông nghiệp, làm giảm diện tích sản xuất cây lương thực, đang là mối đe dọa mang tính toàn cầu hiện nay.
Không dùng nhiên liệu như than, củi.. để đốt. tiết kiệm nhiên liệu năng lượng, và không thải khói bụi gây ô nhiễm môi trường.
Có thể tạo đa dạng loại hình sản phẩm, nhiều màu sắc khác nhau, kích thước khác nhau, thích ứng tính đa dạng trong xây dựng.
Sản phẩm có tính chịu lực cao, cách âm, cách nhiệt tốt hơn vật liệu nung.
Cơ sở sản xuất có thể phát triển theo nhiều quy mô khác nhau, không bị khống chế nhiều về mặt bằng sản xuất. Suất đầu tư thấp hơn vật liệu nung...

Do có những ưu điểm vượt trội  như trên, nên các nước phát triển hiện nay đã sản xuất vật liệu không nung chiếm trên 70% sản lượng sản xuất hàng năm. Còn lại gần 30% vật liệu nung  được chuyển đổi sang sản xuất chủ yếu cho vật liệu trang trí cao cấp. Trong khi đó, ở Việt Nam, hiện tại  vật liệu nung đang chiếm tỷ lệ hơn 93% , còn vật liệu không nung chỉ chiếm chưa đến 7% trong tổng sản lượng gạch ngói xây. Như vậy vật liệu xây dựng không nung kém phát triển không những trong nước mà còn cách biệt quá xa  so với các nước trong khu vực và thế giới.

Vì sao vật liệu xây dựng không nung ở nước ta kém phát triển, mặc dù sản xuất và  sử dụng vật liệu không nung có nhiều hiệu quả như vậy?

Thử phản biện, tìm kiếm nguyên nhân sâu xa về vấn đề này, góp phần tìm biện pháp thúc đẩy phát triển sản xuất vật liệu không nung.

Thứ nhất: Tư duy và hành động theo kiểủ “ăn sẵn” tài nguyên thiên nhiên sẵn có. 

Sản phẩm đất sét nung như chum, vại, nồi niêu, gạch ngói… là hiện thân của một nền sản suất đơn giản,lạc hậu. Nhưng lại đề cao là loại sản xuất truyền thống, nên không những được duy trì mà còn khuyến khích phát triển. Điều này được thể hiện chậm chạp trong việc hạn chế, xóa bỏ loại hình sản xuất lò đứng thủ công; và sự ồ ạt đầu tư hàng trăm nhà máy sản xuất gạch ngói lò tuy nen vào thập niên 90 của thế kỷ 20; Còn trong dự báo chiến lược phát triển vật liệu xây dựng  thì bước phát triển  vật liệu không nung ở trạng thái dịch chuyển ì ạch từng bước, chiếm 10% sản lượng năm 2010,  30% vào năm 2015 và 50% vào năm 2020. Giá trị đất sét khai thác từ đất canh tác nông nghiệp rẻ mạt, làm cho sản phẩm sản xuất không mang tính cạnh tranh trong thị trường, dẫn đến hậu quả mỗi năm vừa qua  mất đi trung bình gần  1500 ha đất canh tác biến thành ao hồ, biến ruộng bậc cao thành vùng đất trũng, và đã đốt hàng triệu tấn than, thải ra hàng  ngàn tỷ tấn khí thải CO2 vào bầu không khí gây ô nhiễm môi trường. Điều này còn tiếp tục gia tăng khi mà tài nguyên đất đai có sẵn bị khai thác sử dụng không có sự chi phối điều tiết hiệu quả  như vừa qua.

Sự bất ổn về chính trị xã hội nhiều vùng trên thế giới do nguyên nhân thiếu lương thực vì giảm quỹ đất canh tác, và ô nhiễm môi trường  là sự cảnh báo chúng ta nhìn lại tư duy và hành động mang tính “ăn sẵn” tài nguyên hiện có.

Thứ hai: Vật liệu không nung thiếu điểm tựa để phát triển. 

Yêu cầu phát triển đầu tư xây dựng của nước ta là khách quan theo sự phát triển đổi mới, hội nhập thế giới, cơ chế thị trường, với nhiều thành phần kinh tế tham gia. Tuy quá trình đổi mới đã diễn ra trên 20 năm, nhưng hiệu quả còn hạn chế về hiểu biết và hành động.

Không có đột phá trong dự báo đầu tư  phát triển vật liệu đi trước một bước về chuyển đổi sản xuất vật liệu không nung một cách kiên quyết bằng chính sách và luật pháp.

Còn duy trì sản phẩm vật liệu nung trong kế hoạch phát triển năm 2010 và những năm tiếp theo ở mức cao (50-70%). Mức  thuế khai thác tài nguyên, cũng như thuế về xâm hại môi trường rất  thấp, cùng việc thực thi chế tài không nghiêm nên chưa có tác dụng làm  hạn chế trong thực tế.

Thiếu chính sách cụ thể về thuế, về ưu đãi đầu tư để khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư sản xuất vật liệu không nung trong việc tận dụng phế thải công nghiệp, khai thác nguyên vật liệu tại chỗ, cạnh tranh về giá cả trên thị trường.

Chưa có đầu tư nghiên cứu và cải tiến trang thiết bị trong sản xuất vật liệu không nung để phù hợp với lao động và kỹ thuật xây dựng Việt Nam. Từ năm 1985 đến năm 2007 mới có 14 tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm và phương pháp thử xác định chất lượng, nhưng thiếu các tiêu chuẩn hướng dẫn thi công sử dụng sản phẩm. Nhiều sản phẩm còn theo tiêu chuẩn nước ngoài, hoặc theo tiêu chuẩn do doanh nghiệp quy định.

Chưa chú ý quan tâm trong việc tuyên truyền hiệu quả cần thiết phải  sản xuất và tiêu thụ vật liệu xây dựng không nung trong xã hội. Việc sử dụng vật liệu không nung vừa qua  mang tính tùy thích theo sự hiểu biết chủ quan của các nhà  đầu tư trong và ngoài nước.

Như vậy, vật liệu xây dựng không nung thiếu điểm tựa để  phát triển không do yếu tố chủ quan từ đầu tư sản xuất, mà do chưa có sự quan tâm  về   tư duy và hành động kiên quyết  của cả hệ thống quản lý nhà nước và  xã hội từ vĩ mô.


Thứ ba: Thiếu nhạc trưởng  quản lý nhà nước về vật liệu xây dựng. 

Vật liệu xây dựng là lương thực của ngành xây dựng. Sản xuất vật liệu xây dựng là loại hình  sản xuất công nghiệp. Tổ chức quản lý mang tính chất tập trung, sản lượng lớn. Quan hệ giữa xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng là quan hệ hợp đồng cung ứng dịch vụ mang tính cạnh tranh, và độc lập trong thực hiện.

Quy hoạch phát triển sản xuất vật liệu xây dựng; cho phép và giám sát đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất theo quy hoạch; quy định tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm…trên phạm vi cả nước, cả TW và địa phương là trách nhiệm thuộc về quản lý nhà nước, với tầm nhìn phục vụ cho đầu tư xây dựng của các thành phần kinh tế, theo cơ chế thị trường...

Sự mất cân đối về phát triển cơ cấu chủng loại, sự mất cân đối về cung cầu vừa qua là hệ quả của tổ chức quản lý đầu tư phát triển vật liệu xây dựng  khép kín theo Bộ ngành TW và địa phương, dẫn đến phân tán trong đầu tư không theo quy hoạch, không theo cơ cấu sản phẩm, biến các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng  phụ thuộc vào sự chỉ đạo của các
cấp theo cơ chế chủ quản TW và địa phương.

Thực tế vừa qua có nhiều cấp chỉ huy, nhưng lại thiếu một nhạc trưởng đứng ở vị trí phù hợp để điều hành có hiệu lực và hiệu quả về phát triển vật liệu xây dựng nói chung, vật liệu không nung nói riêng.

Có thể còn nhiều nguyên nhân khác giải thích cho sự kém phát triển của vật liệu không nung. Điều quan trọng là chưa có biện pháp về cơ chế chính sách làm thay đổi nhận thức về hiệu quả sử dụng vật liệu không nung vào xây dựng ở Việt nam. Trách nhiệm này thuộc về quản lý nhà nước chuyên ngành xây dựng và chuyên ngành công nghiệp vật liệu xây dựng.

Thiết nghĩ, sự phát triển vật liệu xây dựng không nung  cần đồng bộ tháo gỡ và tạo điều kiện  về cơ chế và tổ chức quản lý  để phù hợp với xu thế phát triển, góp phần bảo đảm an ninh lương thực, bảo vệ môi trường, làm phong phú  sản phẩm vật liệu xây dựng.





Read more…

'Tăng cường sử dụng gạch không nung cho công trình xây dựng'

20:19 |
Để tăng cường sử dụng gạch không nung cho công trình xây dựng

(ĐTCK) Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt danh mục Dự án “Tăng cường sản xuất và sử dụng gạch không nung ở Việt Nam” do Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) tài trợ không hoàn lại từ nguồn viện trợ của Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF).
Theo đó, dự án được thực hiện trên toàn quốc trong 5 năm với tổng hạn mức vốn là 38,88 triệu USD, trong đó, vốn ODA do GEF viện trợ không hoàn lại thông qua UNDP là 2,8 triệu USD.

Mục tiêu của dự án là cắt giảm tỷ lệ tăng hàng năm mức phát thải khí nhà kính bằng cách giảm dần việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch và đất màu để làm gạch thông qua việc tăng cường sản xuất, mua bán và sử dụng gạch không nung ở Việt Nam.

Mức phát thải khí nhà kính trực tiếp ước tính là 383 ktonnes CO2. Mức giảm phát thải khí nhà kính gián tiếp ước tính đạt 13.409 ktonnes CO2 được tích lũy trong vòng 10 năm sau khi dự án kết thúc.

Theo Đ.Minh
Báo Đầu tư Bất động sản



Read more…

Giới thiệu sản phẩm máy ép gạch công ty Cổ phần Biển Bạc

13:57 |
GIỚI THIỆU CÔNG TY CỔ PHẦN BIỂN BẠC

Kính thưa quý khách hàng Công ty chúng tôi trân trọng gửi đến quý khách hàng lời chào thân ái và lời chúc tốt đẹp nhất. Sau đây chúng tôi hân hạnh giới thiệu đến quý khách hàng những lĩnh vực mà công ty chúng tôi đang hoạt động và chiếm lĩnh trên thị trường.





GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY

Kính thưa quý khách hàng Công ty chúng tôi trân trọng gửi đến quý khách hàng lời chào thân ái và lời chúc tốt đẹp nhất. Sau đây chúng tôi hân hạnh giới thiệu đến quý khách hàng những lĩnh vực mà công ty chúng tôi đang hoạt động và chiếm lĩnh trên thị trường Chúng tôi chuyên thiết kế, chế tạo, lắp đặt và chuyển sản xuất gạch block, gạch tezzazo.


Với đội ngũ kỹ sư và công nhân lành nghề, chúng tôi chế tạo được nhiều sản phẩm chất lượng cao, tính năng ký thuật đáp ứng được nhiều yêu cầu của khách hàng. Sản phẩm chế tạo máy của chúng tôi đang được sử dụng rất nhiều nơi trong cả nước

Chúng tôi hân hạnh được giới thiệu đến quý khách hàng một số sản phẩm của công ty đang có mặt trên thị trường

- Máy ép gạch TEZZAZO

- Máy ép gạch block ( tự động, bán tự động)

- Gạch xât tường, gạch lát vỉa hè các loại

- Thiết kế hệ thống thuỷ lực , khí nén .

- Thiết kế các loại máy công, nông nghiệp khác

- Dây chuyền nghiền đá

- Dây chuyền nghiền cát

Chúng tôi mong được hợp tác và làm hài lòng Quý Khách.

Trụ sở chính: Thanh Tân - Thanh Liêm - Hà Nam -
Văn phòng giao dịch: Số 168 Phú Gia – Thanh Nguyên – Thanh Liêm – Hà Nam.

   


Read more…

'Dây chuyền sản xuất gạch blcok xi măng cốt liệu BB-B-60'

13:49 |
'Dây chuyền sản xuất gạch blcok xi măng cốt liệu  BB-B-60'


Hình ảnh máy ép gạch block hệ thủy lực hình 1

'Dây chuyền sản xuất gạch blcok xi măng cốt liệu  BB-B-60'

Với lực ép lớn thích hợp cho việc sản xuất bất kỳ một sản phẩm gạch Block nào. Sản phẩm sau khi rời khỏi khuôn có thể cầm trên tay. Sau 4 – 5 giờ là có thể xếp vào kho.

Lực ép tối đa:     20 KN.

Độ dày của sản phẩm:      30 – 200 mm.

Diện tích tổi thiểu để có thể sản xuất:     50 m2.

-         Số công nhân vận hành       : 03 người

-         Năng suất một ca    : 500 – 750 khay /ca ( 4000 – 7500 sp/ca)

-         Chiều cao sản phẩm tối đa : 120mm

-         Công suất điện tiêu thụ  : 3kW (380V/50Hz)

-         Trọng lượng  : 1100kg

Phụ lục trang web:
1. Máy gạch thủy lực
   - Dây chuyền sản xuất gạch blcok xi măng cốt liệu tự động hoàn toàn
   - Dây chuyền sản xuất gạch không nung thủy lực tự động hoàn toàn QTY4 -15A
   - Dây chuyền sản xuất gạch không nung xi măng cốt liệu QT6 -15A
   - Dây chuyền sản xuất gạch không nung xi măng cốt liệu QT8 -15A
   - Dây chuyền sản xuất gạch không nung xi măng cốt liệu QTY10-15A 
   - Dây chuyền sản xuất gạch không nung qty4-15
   - Máy sản xuất gạch không nung | máy ép gạch block QT4 – 15B
   - Máy ép gạch bê tông bán tự động QT4-20
   - Dây chuyền sản xuất gạch block xi măng cốt liệu hệ thủy lực ( BB-B-40)
   - Dây chuyền sản xuất gạch blcok xi măng cốt liệu BB-B-60
2.Máy gạch Cơ khí
   - Máy gạch không nung sản xuất gạch 4 lỗ 80*80*180 mm
   - Máy ép gạch không nung hệ cơ khí 2 trục 8 viên (BB-C-2-18)
   - Dây chuyền sản xuất gạch không nung bán tự động BB-CB18
   - Máy ép gạch không nung hệ cơ khí 4 trục 10 viên BB-C-4-10
   - Máy ép gạch không nung hệ cơ khí 2 trục 8 viên (BB-C-2-8)
 



Read more…

Gạch không nung là gì

23:24 |
Gạch không nung là loại gạch xây, sau khi được tạo hình thì tự đóng rắn đạt các chỉ số về cơ học: Cường độ nén, uốn, độ hút nước... mà không cần qua nhiệt độ. Độ bền của viên gạch không nung được gia tăng nhờ lực ép hoặc rung hoặc cả ép lẫn rung lên viên gạch và thành phần kết dính của chúng. 


Về bản chất của sự liên kết tạo hình, gạch không nung khác hẳn gạch đất nung. Quá trình sử dụng gạch không nung, do các phản ứng hoá đá của nó trong hỗn hợp tạo gạch sẽ tăng dần độ bền theo thời gian. Tất cả các tổng kết và thử nghiệm trên đã được cấp giấy chứng nhận: Độ bền, độ rắn viên gạch không nung tốt hơn gạch đất sét nung đỏ và đã được kiểm chứng ở tất cả các nước trên thế giới: Mỹ, Đức, Trung Quốc, Nhật Bản,...

Gạch không nung ở Việt Nam đôi khi còn được gọi là gạch block, gạch blốc, gạch bê tông, gạch block bê tông, gạch xi măng,... tuy nhiên với cách gọi này thì không phản ánh đầy đủ khái niệm về gạch không nung. Mặc dù gạch không nung được dùng phổ biến trên thế giới nhưng ở Việt Nam gạch không nung vẫn chiếm tỉ lệ thấp.

Sản phẩm gạch không nung có nhiều chủng loại trên một loại gạch để có thể sử dụng rộng rãi từ những công trình phụ trợ nhỏ đến các công trình kiến trúc cao tầng, giá thành phù hợp với từng công trình. Có nhiều loại dùng để xây tường, lát nền, kề đê và trang trí.

Hiện nay, gạch không nung đã khẳng định chỗ đứng vững chắc trong các công trình, nó đang dần trở nên phổ biến hơn và được ưu tiên phát triển. Có rất nhiều công trình sử dụng gạch không nung, từ công trình nhỏ lẻ, phụ trợ cho đến các công trình dân dụng, đình chùa, nhà hàng, sân golf, khu nghỉ dưỡng, cao ốc,...


Ưu điểm 
So sánh hiệu quả kinh tế kỹ thuật sản xuất và sử dụng, sản phẩm vật liệu xây dựng không nung có nhiều tính chất vượt trội hơn vật liệu nung. Đó là:

- Không dùng nguyên liệu đất sét để sản xuất.. Đất sét chủ yếu khai thác từ đất nông nghiệp, làm giảm diện tích sản xuất cây lương thực, đang là mối đe dọa mang tính toàn cầu hiện nay. 

- Không dùng nhiên liệu như than, củi.. để đốt. tiết kiệm nhiên liệu năng lượng, và không thải khói bụi gây ô nhiễm môi trường. 

- Sản phẩm có tính chịu lực cao, cách âm, cách nhiệt phòng hoả, chống thấm, chống nước, kích thước chuẩn xác, quy cách hoàn hảo hơn vật liệu nung. 

- Có thể tạo đa dạng loại hình sản phẩm, nhiều màu sắc khác nhau, kích thước khác nhau, thích ứng tính đa dạng trong xây dựng, nâng cao hiệu quả kiến trúc. 


- Được sản xuất từ công nghệ, thiết bị tiên tiến của quốc tế, nó có các giả pháp khống chế và sự đảm bảo chất lượng hoàn thiện, quy cách sản phẩm chuẩn xác. Có hiệu quả trong xây dựng rõ ràng, phù hợp với các TCVN do bộ xây dựng công bố. 

Các đặc điểm công nghệ gạch không nung:  

- Nguyên liệu đầu vào thuận lợi không kén chọn nhiều vô tận.

- Sản xuất từ thủ công tới tự động hóa hoàn toàn

- Chất lượng viên gạch tiêu chuẩn tốt.

- Giá thành hạ hơn so với gạch nung.

Một số loại gạch không nung hiện nay đang sử dụng

Gạch papanh
Gạch không nung được sản xuất từ phế thải công nghiệp: Xỉ than, vôi bột được sử dụng lâu đời ở nước ta. Gạch có cường độ thấp từ 30–50 kg/cm2 chủ yếu dùng cho các loại tường ít chịu lực.

Gạch Block hay gạch xi măng cốt liệu
Gạch không nung XMCL được tạo thành từ xi măng, mạt đá và các phụ gia khác. Loại gạch này được sản xuất và sử dụng nhiều nhất trong các loại gạch không nung. Trong các công trình thì loại gạch không nung này chiếm tỷ trọng lớn nhất. Loại gạch này thường có cường độ chịu lực tốt ( trên 80kg/m3 ), tỉ trọng lớn ( 1900kg/m3 ) nhưng những loại kết cấu lỗ thì có khối lượng thể tích nhỏ hơn ( 1800kg/m3 )

Đây là loại gạch được khuyến khích sử dụng nhiều nhất và được ưu tiên phát triển mạnh nhất. Nó đáp ứng rất tốt các tiêu chí về kỹ thuật, kết cấu, môi trường, thi công ... ngoài ra nó có thể dùng vữa xây thông thường.

Gạch xi măng - cát

Gạch được tạo thành từ cát và xi măng. 

Gạch không nung tự nhiên
Từ các biến thể và sản phẩm phong hóa của đá bazan. Loại gạch này chủ yếu sử dụng ở các vùng có nguồn puzolan tự nhiên, hình thức sản xuất tự phát, mang tính chất địa phương, quy mô nhỏ ...

Gạch bê tông bọt siêu nhẹ
Sản suất bằng công nghệ bọt khí. Thành phành cơ bản: Xi măng, tro bay nhiệt điện, cát mịn, phụ gia tạo bọt. Sản phẩm đã được kiểm định chất lượng vượt TCXDVN: 2004 về cường độ chịu nén đối với tỷ trọng D800.

Gạch bê-tông khí chưng áp
Tên tiếng Anh là Autoclaved Aerated Concrete – gọi tắt là AAC. Bê  tông khí là hỗn hợp của cát hay tro bay với xi măng và vôi. Quá trình dưỡng bằng hơi nước ở áp suất cao trong nồi hấp làm cho sản phẩm ổn định cả về tính chất vật lý và hóa học. Bê tông khí chứa bong bóng khí rất nhỏ nằm tách biệt, chúng tạo cho bê tông khả năng cách âm cách nhiệt tốt.

Gạch không nung tại Việt nam

Nước ta hiện nay tiêu thụ 20 – 22 tỷ viên gạch một năm, đến năm 2020, lượng gạch cần cho xây dựng ước tính gấp đôi, 40 tỷ viên.

Để đạt được lượng gạch này, cần một lượng đất khoảng 600 triệu m3, tương đương 30.000 ha đất canh tác. Hay nói nôm na, mỗi năm phải nướng diện tích một xã vào lò gạch. Gạch nung còn tiêu tốn nhiều năng lượng than, củi. Những lò gạch thải vào bầu khí quyển một lượng khí độc lớn.

Trong bối cảnh đó, việc sử dụng gạch không nung là xu thế tất yếu của thế giới. Việt Nam cũng đã có gạch không nung, nhưng tỷ lệ sử dụng rất thấp, chỉ chiếm 4 – 5% sản lượng gạch toàn quốc. Lý do, ngoài thói quen sử dụng gạch nung từ lâu nay, còn do dây chuyền chủ yếu nhập, công nghệ phức tạp nên giá thành gạch cao. Gạch không nung đến nay vẫn là món hàng xa xỉ.

Chính sách
Với những vấn đề trên, gạch nung đang dần là một điểm yếu về công nghệ quan trọng trong công nghiệp xây dựng ở nước ta và rất cần được quan tâm. Chính vì vậy theo Quyết định số 115/2001/QĐ-TTg về việc quy hoạch tổng thể ngành công nghiệp vật liệu xây dựng đến năm 2020 và định hướng đến 2020 đã được thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 01/08/2001, phải phát triển gạch không nung thay thế gạch đất nung từ 10 đến 15% vào năm 2005 và 25% đến 30% vào năm 2010, xóa bỏ hoàn toàn gạch đất nung thủ công vào năm 2010.

- Nghị định 121/2008-TTG của Viện vật liệu xây dựng – Bộ xây dựng trình thủ tướng đã phê duyệt đưa ra lộ trình đưa gạch không nung vào thay thế vật liệu nung quy hoạch tới năm 2020. Theo lộ trình đã được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế, tỷ lệ vật liệu xây không nung trên tổng số vật liệu xây vào các năm 2010 sẽ là 10% để đến năm 2015 tăng lên từ 20-25% và bứt phá vào năm 2020 với 30 đến 40%; ứng dụng các công nghệ mới trong sản xuất vật liệu xây dựng, các sản phẩm vật liệu mới tiết kiệm năng lượng, thân thiện môi trường và phát triển bền vững. 

- Công văn 2383/BXD – VLXD ngày 27/11/2008 của Bộ xây dựng gửi các Sở xây dựng các tỉnh thành phố phát triển vật liệu xây, gạch không nung thay thế cho gạch ngói nung để giảm ô nhiễm môi trường.

- UBND TP Hà Nội đã chỉ thị nghiêm cấm sử dụng đất nông nghiệp để sản xuất gạch ngói, đồng thời không cho phép các xã, thôn, ký hợp đồng mới, gia hạn hợp đồng về sản xuất gạch bằng lò thủ công gây ô nhiễm môi trường tại địa phương. Bên cạnh đó, Hà Nội cũng không cho phép tận dụng đất đào từ các công trình nuôi trồng thủy sản, kênh mương, ao hồ để sản xuất gạch ngói bằng lò thủ công. UBND TP HCM khuyến khích sử dụng gạch không nung vào các công trình sử dụng vốn ngân sách, công trình nhà cao tầng, công trình nhà ở, ký túc xá sinh viên... Tất cả nhằm mục tiêu phát triển các loại VLXD thân thiện với môi trường bằng công nghệ tiên tiến. Trong nội dung của đồ án quy hoạch phát triển VLXD TPHCM đến năm 2020 thì đến năm 2015, các cơ sở khai thác, chế biến, sản xuất vật liệu xây dựng (VLXD) có hàm lượng khí thải vượt quá quy định hoặc không có hệ thống xử lý chất thải phải chuyển đổi sản xuất, ứng dụng công nghệ tiên tiến hoặc phải ngừng sản xuất. 

- Quyết định phê duyệt chương trình phát triển vật liệu không nung đến năm 2020‎ (Q567TTG_ngày 28-04-2010 ) >> Download quyết định tại đây ! 

- Chỉ thị 10/CT-TTg về việc tăng cường sử dụng vật liệu xây không nung và hạn chế sản xuất, sử dụng gạch đất sét nung

Một số giải pháp Phát triển vật liệu xây dựng không nung
Để thực hiện mục tiêu đạt 40% vật liệu xây không nung (VLXKN) đến năm 2020 bằng 16,8 tỷ viên, trung bình mỗi năm phải đầu tư mới 1,6 tỷ viên. Căn cứ vào nguồn nguyên liệu của từng vùng, nhu cầu của thị trường, thị hiếu của người tiêu dùng để đầu tư các cơ sở sản xuất VLXKN thích hợp.

Phát triển sản xuất VLXKN cốt liệu xi măng, cát, tro xỉ, mạt đá, trên các dây chuyền 3 triệu, 7 triệu, 15 – 40 triệu viên/năm ở các vùng nông thôn, miền núi, các KĐT, KCN, trước tiên thay thế các lò gạch thủ công. Loại vật liệu này chiếm trên 70% VLXKN vào năm 2020. Đầu tư sản xuất đá chẻ, đá ong, VLXKN từ đất đồi, từ phế thải xây dựng, phế thải công nghiệp (bùn đỏ) với các dây chuyền sản xuất trên 8 – 20 triệu viên TC/năm, chiếm khoảng 5% VLXKN.

1. Các giải pháp khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất VLXKN theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Các chính sách ưu đãi về thuế, đầu tư, thuê đất, vốn vay… Chính sách khuyến khích sử dụng VLXKN vào công trình. 

2. Các địa phương còn xây dựng và công bố quy hoạch sử dụng đất để sản xuất gạch đất sét nung, không sử dụng đất nông nghiệp. Ban hành các chính sách tăng trưởng tỷ lệ gạch rỗng đất sét nung lên 80% vào năm 2020. Tăng thuế tài nguyên đất sét làm VLXD. 

3. Hoàn thiện công nghệ sản xuất VLXKN, nghiên cứu sử dụng tất cả các nguồn phế thải công nghiệp. 

4. Nâng cao năng lực cơ khí trong nước để chế tạo thiết bị sản xuất VLXKN, để giảm nhập khẩu, phấn đấu đến năm 2020 không nhập khẩu. 

5. Soát xét, hoàn chỉnh đồng bộ hệ thống các tiêu chuẩn, quy chuẩn, kỹ thuật, các quy trình, quy phạm, hướng dẫn thi công và các định mức kinh tế kỹ thuật liên quan đến sản xuất và sử dụng VLXKN, tạo điều kiện cho các nhà tư vấn, thiết kế đưa VLXKN vào công trình. 

6. Để đưa VLXKN vào cuộc sống cần phải tổ chức tốt công tác tuyên truyền, thông tin để cho các cơ quan quản lý Nhà nước, các chủ thể trong hoạt động xây dựng và mọi người dân nhận rõ những ưu điểm, lợi thế trong việc sản xuất, sử dụng VLXKN, đồng thời thấy được những tác động tiêu cực của việc sản xuất và sử dụng gạch đất sét nung không theo quy hoạch, để tập trung mọi năng lực phát triển sản xuất và sử dụng VLXKN, góp phần phát triển ngành công nghiệp VLXD nước ta hiện đại, bền vững.
Read more…